Để giải quyết các khó khăn khi triển khai các quy định trên thực tế, Nghị định số 169/2026/NĐ-CP có nhiều nội dung mới mang tính then chốt.
Trước hết, bổ sung khoản 2 Điều 3 quy định rõ tang vật vi phạm hành chính là vật, tiền, hàng hóa có liên quan trực tiếp đến vi phạm hành chính; không bao gồm vật, tiền, hàng hóa đã khai hải quan theo đúng quy định pháp luật.
Cùng với đó, điểm b khoản 4 Điều 10 làm rõ hành vi vi phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự chuyển đến theo quy định pháp luật hiện hành.
Đối với hành vi khai sai, Nghị định bổ sung khoản 5 Điều 15 để áp dụng trong trường hợp cá nhân, tổ chức vi phạm đã được Bộ Tài chính hoặc cơ quan Hải quan hướng dẫn bằng văn bản về mã số, thuế suất hoặc mức thuế đối với hàng hóa cùng tên.
Một thay đổi lớn là việc bổ sung quy định về thẩm quyền xử phạt của Công an nhân dân nhằm xử lý các vụ việc chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự mà không cần chuyển hồ sơ cho cơ quan Hải quan.
Đặc biệt, nhằm thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW về chuyển đổi số quốc gia, Nghị định đã bổ sung Điều 37 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trên môi trường điện tử.
Nhằm tạo hành lang pháp lý minh bạch, cơ quan soạn thảo đã rà soát các vụ việc phát sinh trong thực tế để loại bỏ những hành vi vi phạm không còn phù hợp với quy định hiện hành.
Theo đó, Nghị định số 169/2026/NĐ-CP chính thức bãi bỏ 3 quy định từng tồn tại ở Nghị định số 128/2020/NĐ-CP.
Thứ nhất là quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 về hành vi khai sai so với thực tế về lượng (tang vật có trị giá trên 10 triệu đồng), tên hàng, chủng loại, chất lượng, trị giá hải quan, xuất xứ, mã số hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng chịu thuế nhưng không làm ảnh hưởng đến số thuế phải nộp.
Thứ hai là quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 9 về vi phạm quy định quản lý hàng hóa trong kho bảo thuế dẫn đến hàng hóa thực tế tồn kho thiếu so với chứng từ, sổ sách kế toán, hồ sơ hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu mà không thuộc trường hợp quy định tại điểm g khoản 1 Điều 14 Nghị định này.
Thứ ba là quy định tại khoản 8 Điều 11 về xuất nhập khẩu hàng hóa thực tế không đúng với khai hải quan về lượng, tên hàng, chủng loại mà không có chứng từ để khai bổ sung theo quy định của pháp luật hải quan về khai bổ sung, trừ trường hợp vi phạm quy định tại các Điều 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22 Nghị định này.
Về tính kế thừa và chuyển tiếp, đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã được ban hành trước ngày Nghị định số 169/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành mà cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính còn khiếu nại thì áp dụng quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 67/2020/QH14, Nghị định số 128/2020/NĐ-CP và Điều 2 Nghị định số 102/2021/NĐ-CP.
Đồng thời, đối với hành vi vi phạm xảy ra và kết thúc trước thời điểm Nghị định số 169/2026/NĐ-CP có hiệu lực mà bị phát hiện hoặc xem xét ra quyết định xử phạt khi Nghị định này đã có hiệu lực thì áp dụng quy định của Nghị định số 169/2026/NĐ-CP nếu Nghị định này không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn.
Theo Ban Pháp chế, kể từ ngày 1/7/2026, khi Nghị định số 169/2026/NĐ-CP chính thức được áp dụng, Nghị định số 128/2020/NĐ-CP và Điều 2 Nghị định số 102/2021/NĐ-CP sẽ hết hiệu lực thi hành.
Thể chế hóa kịp thời chủ trương, chính sáchĐánh giá về sự ra đời của văn bản pháp lý quan trọng này, ông Kim Long Biên, Trưởng ban Ban Pháp chế, Cục Hải quan cho biết, Nghị định số 169/2026/NĐ-CP được ban hành nhằm kịp thời thể chế hóa đầy đủ các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước về tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Việc sửa đổi, bổ sung một số quy định của Nghị định số 128/2020/NĐ-CP và Nghị định số 102/2021/NĐ-CP, bảo đảm đồng bộ và kịp thời; đồng thời rà soát, điều chỉnh các quy định chi tiết và biện pháp thi hành để bảo đảm tính thống nhất với Luật Xử lý vi phạm hành chính và Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, đồng thời phù hợp với thực tiễn triển khai. Cốt lõi của văn bản là bảo đảm việc xử phạt nghiêm minh nhưng có tính khả thi, hiệu quả và phù hợp với thực tế; góp phần bảo đảm, duy trì trật tự quản lý nhà nước về hải quan, đồng thời tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu; khuyến khích người khai hải quan, người nộp thuế chủ động tự giác chấp hành pháp luật hải quan và pháp luật có liên quan. Đáng chú ý, việc sửa đổi, bổ sung một số hành vi để bảo đảm phù hợp với thực tiễn quản lý của hải quan hiện nay thông qua việc nghiên cứu các vụ việc vướng mắc điển hình phát sinh trong thực tế; đồng thời loại bỏ những hành vi vi phạm không còn phù hợp với quy định pháp luật hiện hành và không xảy ra trong thực tế. |







